Dân cư Đà Lạt
Trải
qua hơn một trăm năm lịch sử, từ một trung tâm nghỉ dưỡng trở thành một đô thị
lớn, cộng đồng dân cư Đà Lạt thay đổi theo quá
trình hình thành và phát triển của thành phố. Vào năm 1893, khi bác sĩ Alexandre
Yersin đến cao nguyên Lâm Viên, nơi đây chỉ là một vùng dân
cư thưa thớt, một vài ngôi làng của người Lạch tập trung ở chân núi. Đến tận năm
1902, khi dự án xây dựng một thành phố của Toàn quyền Paul Doumer dừng
lại, cư dân Đà Lạt vẫn chỉ là những nhóm dân
tộc thiểu số người Lạch, người Chil cùng một nhóm nhỏ người Việt di cư lên đây
từ trước đó. Năm 1906, một lần nữa, nơi đây được chọn làm nơi nghỉ dưỡng dành
cho công chức và binh sỹ Pháp, ngoài các cư dân bản địa, ở Đà
Lạt bắt đầu có các công chức người Pháp, những du khách châu
Âu, và người Việt cũng bắt đầu tới đây nhiều hơn trước. Giai đoạn sau Thế chiến
thứ nhất là thời kỳ thành phố phát triển mạnh mẽ. Cơ sở hạ tầng cùng đường xá
được xây dựng khiến dân cư từ nhiều nơi tới Đà
Lạt định cư, du lịch và nghỉ dưỡng. Dân số Đà
Lạt đã tăng lên đáng kể từ 1.500 người vào năm 1923 lên 11.500
người năm 1939. Những năm Thế chiến thứ hai, nhiều người Pháp không thể trở về
nghỉ ở quê hương và Đà Lạt trở thành điểm đến
của họ. Thành phố tiếp tục được mở rộng và dân số tăng lên nhanh chóng, từ
13.000 người năm 1940 lên 25.500 người vào năm 1944.
dân cư thành phố Đà Lạt
Những
biến cố của cuộc chiến tranh Đông Dương ảnh hưởng mạnh mẽ
tới dân số Đà Lạt. Thời kỳ này rất nhiều cư dân của thành
phố lánh về Cầu Đất, Đơn Dương, Ninh Thuận, Bình Thuận hoặc trở về quê hương cũ.
Vào năm 1946, dân số Đà Lạt chỉ còn khoảng
5.200 người, khiến người Pháp gọi nơi đây là "thành phố quạnh hiu". Nhưng
khoảng thời gian tiếp theo, khi Đà Lạt một lần
nữa thuộc về người Pháp, các hoạt động kinh tế, xã hội dần ổn định trở lại. Vào
cuối năm 1952, dân số thành phố đạt 25.041 người, trong đó có 1.217 người châu
Âu, 752 người Hoa, 22.232 người Kinh và 840 người dân tộc bản địa. Cuối năm
1953, đầu năm 1954, cuộc chiến tranh Đông Dương bước vào giai đoạn khốc liệt
nhất, Đà Lạt trở thành nơi dân cư các tỉnh lân
cận tìm đến để tỵ nạn chiến tranh. Năm 1954, sau hiệp định Genève, thành phố đón
nhận một lượng lớn những di dân từ miền Bắc cùng làn sóng người miền Trung đến
lập nghiệp, khiến dân số Đà Lạt tăng vọt từ
25.000 người năm 1954 lên 58.958 người vào năm 1956. Dân số thành phố gia tăng
điều hòa trong thập niên 1960, nhưng giảm sút trong thập niên 1970, khi chiến
tranh Việt Nam bước vào giai đoạn căng thẳng. Khoảng thời gian đầu sau sự kiện
30 tháng 4 năm 1975, nhiều người phục vụ trong quân đội, chính quyền Việt Nam
Cộng hòa trở về quê quán khiến dân số Đà
Lạt giảm xuống, nhưng sau đó được bổ sung bởi các di dân mới từ
miền Bắc và miền Trung. Cuối thế kỷ 20, địa giới hành chính Đà
Lạt được mở rộng, dân số thành phố tăng lên mạnh mẽ và có sự
gia tăng dân số cơ học đáng kể. Năm 2011, Đà
Lạt có dân số 211.696 người, chiếm 17,4% dân số của tỉnh Lâm
Đồng, mật độ 536 người/km².
Dân cư Đà Lạt
Trong
lịch sử, Đà Lạt từng là nơi sinh sống của nhiều nhóm dân cư có nguồn gốc đa
dạng, từ người Kinh, người Cơ Ho đến những người Hoa, người Pháp. Ngày nay, phần
lớn cư dân của thành phố là người Kinh, phần nhỏ còn lại gồm những người Hoa,
người Cơ Ho và các dân tộc thiểu số khác như Tày, Nùng, Chăm... Theo số liệu năm
2011, Đà Lạt có 191.803 cư dân thành thị, tương
đương 90%. Cấu trúc theo giới tính, thành phố có 100.520 cư dân nam và 111.176
cư dân nữ. Cũng như các đô thị khác, mật độ dân số của Đà
Lạt không đồng đều, dân cư tập trung nhiều nhất ở các phường
trung tâm như Phường 1,Phường 2, Phường 6. Ở ngoại thành, cư dân sống chủ yếu
bằng nông nghiệp, lâm nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, trong đó nông nghiệp chiếm
một phần quan trọng. Khu vực ngoại thành của Đà Lạt rõ nét nhất là các xã Xuân
Trường, Xuân Thọ và Tà Nung.
Nguồn: wikipedia.org


Dân cư thành phố Đà Lạt
4/
5
Oleh
Nặc danh
